Tìm thành ngữ trong đoạn thơ sau, phân biệt với từ ngữ thông thường về mặt cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa
58 lượt xem
Câu 1: (Trang 66 - SGK Ngữ văn 11) Tìm thành ngữ trong đoạn thơ sau, phân biệt với từ ngữ thông thường về mặt cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên hai nợ âu đành phận
Năm nắng mười mưa dám quản công.
(Trần Tế Xương, Thương vợ)
Bài làm:
- Lặn lội thân cò: từ hình ảnh “con cò” trong ca dao, Tú Xương đã sáng tạo ra một thành ngữ mới, chỉ sự vất vả của người phụ nữ.
- Một duyên hai nợ: cũng là một thành ngữ do Tú Xương sáng tạo ra từ một khái niệm “duyên nợ” của nhà Phật, nói về tình nghĩa vợ chồng.
- Năm nắng mười mưa: chỉ sự dãi dầu, cực nhọc, vất vả.
So với từ ngữ thông thường, thành ngữ thường đơn giản, ngắn gọn nhưng nội dung lại đầy đủ, sinh động, có tính gợi tả cao, diễn tả được nhiều ý nghĩa khác nhau và có giá trị biểu cảm cao hơn. Tú Xương vận dụng và sáng tạo những thành ngữ dân gian để khắc họa được hình ảnh bà Tú vất vả, tần tảo, đảm đang, tháo vát trong việc mưu sinh cho cả gia đình.
Xem thêm bài viết khác
- Giá trị nội dung và nghệ thuật trong Hai đứa trẻ
- Phân tích nhân vật Huấn Cao
- Lựa chọn những sự kiện có thể viết thành bản tin
- Soạn văn bài: Ngữ cảnh
- Nội dung chính bài Lẽ ghét thương (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
- Lựa chọn từ ngữ thích hợp để dùng vào vị trí bỏ trống trong mỗi câu thơ sau và giải thích lí do lựa chọn
- Từ niềm “hạnh phúc” của các nhân vật do cái chết của cụ cố tổ đem lại và cảnh tượng của cái “đám ma gương mẫu”, anh (chị) nhận xét như thế nào về xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời?
- Việc gặp gỡ Thị Nở đã có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc đời Chi Phèo? Những gì đã diễn ra trong tâm hồn Chí Phèo sau cuộc gặp gỡ đó?
- Nội dung chính bài: Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Hãy cho biết: bài chiếu được viết nhằm đối tượng nào? Các luận điểm đưa ra để thuyết phục là gì? Có phù hợp với đối tượng không?
- Soạn văn bài: Vĩnh biệt cửu trùng đài
- Đặc sắc về nghệ thuật của các truyện ngắn Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân), Chí Phèo (Nam Cao)