Qua đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính, em hiểu thế nào về thành ngữ "Oan Thị Kính”?
81 lượt xem
Câu 11: Qua đoạn trích Nỗi oan hại chồng trong vở chèo Quan Âm Thị Kính, em hiểu thế nào về thành ngữ "Oan Thị Kính”?
Bài làm:
- Thành ngữ là những cụm từ ngắn và cố định, thường không được cấu tạo thành một câu hoàn chỉnh vàkhông thể biến đổi hoặc thay thế bằng các từ ngữ, hình ảnh khác. Nghĩa của thành ngữ rất khác so với nghĩa từng từ cấu thành nên nó. Thành ngữ được lưu truyền trong dân gian và văn chương, bằng hình thức truyền miệng.
- Thành ngữ "Oan Thị Kính" được hình thành bởi vở chèo Quan Âm Thị Kính về nỗi oan khiên của nàng Thị Kính: đầu tiên là nỗi oan về án giết chồng. Khi Thiện Sĩ ngồi đọc sách mệt, ngủ thiếp đi, Thị Kính ngồi khâu thấy sợi râu mọc ngược định cầm dao khâu xén đi. Ai ngờ, Thiện Sĩ tỉnh dậy hô hoán lên khiến Sùng Ông, Sùng Bà từ dưới nhà chạy lên rồi mặc cho nàng kêu oan, thanh minh, Sùng Bà vẫn đổ riệt cho nàng tội giết chồng rồi đuổi nàng về nhà bố đẻ. Nỗi oan thứ hai là nỗi oan về án hoang thai. Thị Kính sau khi bị đuổi ra khỏi nhà liền giả làm trai nương nhờ cửa phật, lấy hiệu là Kính Tâm. Thị Mầu là con gái phú ông, vốn tỉnh lẳng lơ nên thấy Kính Tâm liền ve vãn những không được. Thị Mầu về nhà trêu ghẹo rồi ăn nằm với anh Nô là người ở trong nhà rồi có thai. Khi làng bắt vạ, Thị Mầu đổ cho Kính Tâm. Kính Tâm bị đuổi ra khỏi chùa còn Thị Mầu thì mang con bỏ lại cho nàng. Trải qua ba năm, Kính Tâm đi xin sữa từng ngày nuôi con Thị Mầu. Rồi nàng được độ lên tòa sen, thành Phật bà Quan Âm. Trước khi hóa, Kính Tâm viết thư để lại cho đứa trẻ, bấy giờ mọi người mới biết nàng là con gái và nỗi oan khiên của nàng mới được hóa giải. Mọi người cũng nhận ra được tấm lòng từ bi, nhẫn nhục của nàng.
- Như vậy, thành ngữ "Oan Thị Kính" là để chỉ những nỗi oan khuất cùng cực không thể giãi bày cũng không thể minh oan được với ai.
Xem thêm bài viết khác
- Viết một đoạn văn ngắn sử dụng dấu chấm lửng. Nêu công dụng của dấu chấm lửng đó
- Đề thi giữa học kì 2 lớp 7 môn Ngữ văn - Số 5
- Đề cương ôn tập ngữ văn 7 học kì 2
- Nếu các luận điểm trong các bài nghị luận ở bài 20,21,23
- Hãy nêu một tình huống thường gặp trong cuộc sống mà em cho là phải làm văn bản đề nghị và một tình huống
- Trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, để chứng minh cho luận điểm “Yêu nước là một truyền thống quý báu của ta”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng phép liệt kê nêu ra nhiều dẫn chứng sinh động, giàu sức thuyết phục. Hãy chỉ ra những phép liệt kê ấy
- Em hãy lập luận cho luận điểm "Sách là người bạn lớn của con người '' bằng cách trả lời các câu hỏi
- Đặt câu có dùng dấu gạch ngang: a) Nói về một nhân vật trong vở chèo Quan Âm Thị Kính. b) Nói về cuộc gặp mặt của đại diện học sinh cả nước.
- Việc tách câu như trên có tác dụng gì
- Đề thi giữa học kì 2 lớp 7 môn Ngữ văn - Số 8
- Nội dung chính bài: Ôn tập văn nghị luận
- Viết đoạn văn giải thích cách hiểu của em qua câu tục ngữ: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống